Niềm vui và nỗi khổ của việc học môn Ngữ văn

Ngữ văn là một trong những môn không thể vắng mặt trong danh mục các môn học của chương trình giáo dục ở Việt Nam nói riêng và các nước trên toàn thế giới. Nói đến môn học này, không ít người tỏ ra thích thú, trân trọng, có những người dam mê thực sự bộ môn này nhưng cũng không ít người tỏ rõ thái độ thờ ơ, thậm chí khó chịu. Thay vì vội vàng trách cứ những phản ứng tiêu cực đó, chúng ta nên xuất phát từ vị trí của người học để cảm nhận niềm vui và nỗi khổ của việc học môn Ngữ vãn hiện nay.

Thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, Ngữ văn cung cấp cho người học những kiến thức về văn bản văn học, tiếng Việt và cách thức sáng tạo một văn bản mới. Học Ngữ văn, người học không chỉ cần khả năng tư duy như các môn học khác mà phải có tâm hồn để cảm thụ, lĩnh hội những cái hay, cái đẹp mà môn học này mang đến.

Là môn học quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn luồn chiếm số lượng tiết học khá cao so với nhiều môn khác. Muốn học tốt và dạy tốt nó, người học và người dạy sẽ phải đầu tư lượng thời gian không nhỏ. Điều đó phần nào cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của môn học này. Học Ngữ văn, người học không chỉ được tiếp nhận lượng tri thức khoa học về đời sống được mang đến như các môn học khác mà còn được tiếp nhận thứ khoa học của lòng người, khoa học nhân học. Người học không chỉ được biết phải sử dụng tiếng Việt như thế nào cho đúng, phân biệt các từ loại, loại từ ra sao, làm thế nào để sáng tạo được một văn bản nghị luận mà còn được chứng kiến, thâu hiểu sự thật về lòng người qua những sáng tác văn học mang đậm tính nhân văn... Nói chung, có rất nhiều điều thú vị ở môn học này, nhưng thực tố cho thấy không ít học sinh học Ngữ văn rất vất vả, “khổ sở”. Vậy đâu là niềm vui, đâu là nỗi khổ của người học Ngữ văn hiện nay?

Những cảm xúc vui buồn, đau khổ không khi nào tự nhiên hình thành trong tâm hồn mỗi con người. Ta thường vui khi gặp những điều tốt đẹp, may mắn, hợp với suy nghĩ, hoàn cảnh của mình. Nỗi buồn hay được dấy lên từ những bất trắc, gian khó mà chúng ta phải đốì diện. Ngữ văn chắc chắn sẽ mang đến cho mỗi người học nhiều điều bổ ích nhưng có lẽ nó cũng có chút ít những hạn chế cản trở niềm yêu thích, dam mê, ở đối tượng này.

Có thể xuất phát từ đặc trưng, chức năng của loại hình nghệ thuật văn học để lí giải niềm vui, sự hứng thú của người học Ngữ văn. Có người nói, đại ý: Ngồi trong xó mà lịch lãm, biết hết những chuyện thuở xưa, biết hết mọi chuyện trong thiên hạ, hiểu được những điều sâu kín trong tâm hồn con người, đó là nhờ đọc, học những trang văn, trang thơ. Chức năng đầu tiên mà chúng ta vẫn hay nhắc tới khi nói về văn học là chức năng nhận thức. Trong môn học Ngữ văn, các nhà biên soạn sách giáo khoa đã tuyển chọn rất nhiều văn bản văn học để người dạy và người học tiến hành đọc - hiểu trên lớp. Những văn bản đó cung cấp cho người học nhiều tri thức trong cuộc sống. Đọc trích đoạn Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, đọc trang viết của Thạch Lam về thứ corn làng Vòng hay đọc đoạn trích Nghệ thuật băm thịt gà của Ngô Tất Tố (trích trong phóng sự Việc làng), lẽ nào chúng ta không thích thú trước những điều mà các nhà văn mang đến? Ta sẽ ngạc nhiên, nể phục vô cùng trước “nghệ thuật chia cỗ” của thằng Mới - “nghệ sĩ” tài ba: Hắn có thể chia một mâm xôi và một con gà không quá lớn thành hai mươi xuất. Đọc đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, chúng ta có thể hình dung rõ nét về bộ mặt thối nát của xã hội thượng lưu Việt Nam dưới chế độ thực dàn nửa phong kiến. Gia đình cụ cố Hồng - một gia đình trí thức luôn hô hào văn minh, tiến bộ cũng là một gia đình đại bất hiếu, vô nhân tính. Hành trình đưa đám cụ cô' tổ cũng chính là “hành trình di tới mộ” (Vũ Dương Quỹ) của đám người rởm hợm, háo danh, lô' lăng này. Hay đọc những trang viết tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân, chúng ta sẽ biết mỗi con ong phải bay bao nhiêu chuyến mới chưng cất được giọt mật ngọt, sẽ tường tận sống Đà còn có những tên nào khác, dài bao nhiêu cây số, chảy qua những đâu, có lịch sử như thế nào, hùng vĩ và hiền hoà ra sao...Học Ngữ văn người học còn được luyện tập kĩ sáng tạo các văn bản nhật dụng (như đơn xin nghỉ học, báo cáo tổng kết công tác Đoàn, Đội...), kĩ năng viết một bài văn nghị luận xã hội hay nghị luận văn học, kĩ năng sử dụng từ ngữ, ngữ pháp chính xác... Các tri thức đó, rất thiết thực với cuộc sống của mỗi người. Ứng dụng được chúng vào thực tiễn, chúng ta sẽ tự tin hơn trong hoạt động giao tiếp với mọi người xung quanh.

Văn học không chỉ giúp người học nhận thức về cuộc sống mà nó còn giúp đạo đức con người trở nên hoàn thiện hơn. Có một câu chuyện được lưu truyền rằng: Trên một chuyên tàu, tên trộm đã đánh cắp hành lí của một hành khách. Trong túi hành lí đó, có một cuốn sách văn học. Điều kì diệu là sau khi đọc xong cuốn sách đó, tên trộm đã quyết định “giải nghệ”. Câu chuyện nhấn, mạnh sức cảm hoá của văn học đô'i với con người. Học Ngữ văn, người học được lĩnh hội những bài học về đạo đức cực kì quí giá. Đây chính là nền tảng để mỗi người hình thành, phát triển nhân cách của mình. Trước bi kịch của Thuý Kiều, không ai có thể lãnh đạm, không mảy may xúc động, xót thương cho người con gái hồng nhan mà bạc mệnh. Đọc những trang truyện Hai đứa trẻ, Chí Phèo, người học được các tác giả truyền thêm lòng thương cảm đối với những kiếp người tàn trong xã hội nước ta những năm tiền khởi nghĩa. Chúng ta được tiếp nhận bài học về sức sống tiềm tàng, về tình yêu cuộc sống của con người được Tô Hoài gửi gắm qua hình tượng nhân vật Mị trong thiên truyện Vợ chồng A Phủ. Và với Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, người học được giáo dục về lòng tự trọng, về phong thái sống đĩnh đạc, lịch duyệt của con người hiện đại... Đó chẳng phải là niềm vui khi học Ngữ văn sao?

Văn học là một loại hình nghệ thuật thuộc thượng tầng kiên trúc. Đặc trưng của văn học là giá trị thẩm mĩ. Chức năng chính yếu của văn học là chức năng thẩm mĩ. Văn học luôn mang đến người đọc những sáng tạo nghệ thuật đích thực. Người sáng tác là nghệ sĩ và sáng tác của họ luôn phải hàm chứa tính nghệ thuật. Học Ngữ văn, học sinh sẽ được tiếp cận với thế giới nghệ thuật của người sáng tác. Phong cách nghệ thuật của các nhà văn sẽ luôn là thứ hâ'p dẫn người học say mê khám phá. Với Nguyễn Tuân, người học luôn bị cuốn theo thế giới nhân vật “đặc tuyển” của ông. Chúng ta say mê với một Huấn Cao “khinh bạc đến điều” nhưng lại rất mực tài hoa khi “dậm tô các con chữ” trên “phiến lụa óng” và luôn giữ “thiên lương” trong sáng (Chữ người tử tù); say mê với người nghệ sĩ có tài vượt thác leo ghềnh (Người lái đò sống Đà)... Học Nguyễn Trãi, chúng ta luôn thấy thú vị trước những phá cách độc đáo của nhà thơ trong việc lựa chọn đề tài, trong cách sáng tạo những câu lục ở một số bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú như: “Bui có một lòng trung lẫn hiếu - Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” (Thuật hứng số 24), hay “Dê có Ngu cầm đàn một tiếng - Dân giàu đủ khắp đòi phương" (Bảo kính cảnh giới)... Được thưởng thức cái đẹp, đó chẳng phải là niềm vui của người học Ngữ văn sao?

Nãy giờ ta chủ yếu khẳng định niềm vui của người học xuất phát từ hoạt động đọc - hiểu văn bẳn. Lẽ nào các hoạt động làm văn, học tiếng Việt không mang lại cho người học sự thích thú? Nhà thơ Lưu Quang Vũ đã viết bài thơ Tiêng Việt với tình cảm yêu quí chân thành:

“Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh”

Trước tất cả những gì môn học mang đến, người học chắc chấn sẽ tìm được sự hứng thú, say mê trong các giờ học của mình. Nhưng bên cạnh niềm vui, người học cũng có những nỗi khổ riêng, cần thấy niềm khổ của con người chỉ xuất hiện khi có sự mâu thuẫn giữa những ước mơ, khát vọng của họ và thực tế mà họ phải trải qua. Nói như vậy để khi bàn về nỗi khổ của việc học Ngữ văn chúng ta không nhầm lẫn với những vấn đề, hiện tượng đáng buồn đang nổi cộm trong hoạt động học Ngữ văn hiện nay.

Theo tôi, Ngữ vãn là môn học không hề dễ học. Nó không đưa ra các công thức, định đề, định lí cụ thể, không có khuôn mẫu nhất định cho việc thực hiện các bài tập... như các môn học thuộc chuyên ngành khoa học tự nhiên. Muốn học tốt Ngữ văn, người học không chỉ cần tư duy rõ ràng, mạch lạc, sáng tạo, chủ động mà nhất thiết phải có tâm hồn, phải am hiểu cuộc sống. Không rung cảm, xúc động, chúng ta không thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của mỗi văn bản văn học; không nhạy cảm trước cuộc sống, chúng ta không thể lí giải được những gì các nhà văn, nhà thơ viết và cũng không thể tạo lập được các Bài làm văn có sức thuyết phục. Làm sao người học thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà văn Nam Cao nếu không cảm nhận được sự thâu hiểu, xót thương nhà văn gửi gắm trong mỗi chi tiết, mỗi sự kiện... trong “Chí Phèo”? Muốn nghị luận về hiện tượng ô nhiễm môi trường hiện nay, chúng ta phải có những hiểu biết cơ bản về thực trạng này, ở xung quanh ta và ở những nơi khác, phạm vi khác... Như vậy, người học phải sát sao với những vấn đề thuộc về chính cuộc sống con người chứ không phải những điều viển vông, xa lạ nào khác. Nỗi khổ này có thể được cải thiện nếu người học biết đào sâu những suy nghĩ, cảm xúc trong lòng mình. Đọc nhiều, học nhiều hơn, sống chân thành trong cuộc sống là cách tốt nhất để bồi đắp tâm hồn của mỗi chúng ta.

Con người ai cũng có tâm hồn nhưng không phải tâm hồn ai cũng đủ nhạy cảm để học tốt Ngữ văn. Nỗi khổ trong việc học môn này nằm ở chính điều đó.

Nói như vậy không có nghĩa ai có tâm hồn, ai nhanh nhạy trước việc nấm bắt tri thức Ngữ văn thì không có nỗi khổ. Người học hiểu sâu quá các bài học nhân sinh, hiểu nỗi lòng các nhà văn nhà thơ gửi gắm trong các văn bản văn học, hay khi bàn luận về các vấn đề, hiện tượng trong đời sống hiện nay sẽ rất đau lòng trước thực trạng suy thoái về nhân cách, đạo đức con người. Văn học hướng con người đến Chân, Thiện, Mĩ nhưng không phải vì thế mà né tránh những tồn tại trong cuộc sống. Cái “tâm” của người tâm huyết với môn học sẽ không được thanh nhàn như khi học các môn khác. Nỗi khổ này không hoàn toàn gây hại, tuy nhiên, chúng cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với nhân sinh quan, thế giới quan của con người. Người học tự xác định cho mình những phương thức cụ thể để cân bằng giữa việc học và thực tế cuộc sống.

Nói chung, môn học nào cũng mang đến người học niềm vui, nỗi khổ. Niềm vui, nỗi khổ của việc học Ngữ vãn chủ yếu xuất phát từ đặc trưng bản chất nhân văn của món học. Chúng khẳng định sức hấp dẫn của môn học và cho thấy Ngữ văn là môn học không thế’ không được dạy - học trong nhà trường.

BÀI CÙNG NHÓM
Đã phát hiện trình chặn quảng cáo AdBlock
Trang web này phụ thuộc vào doanh thu từ số lần hiển thị quảng cáo để tồn tại. Vui lòng tắt trình chặn quảng cáo của bạn hoặc tạm dừng tính năng chặn quảng cáo cho trang web này.